Đề nghị xem xét cáo trạng số 65/CTr-VKSNCB-P2 ngày 29/11/2017 của VKSND tỉnh Cao Bằng

Facebook Google+ Email

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------o0o--------

 

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VẠN LÝ

58C Hùng Vương – Phường Thới Bình.

Quận Ninh Kiều – TP Cần Thơ.

ĐT: (0292) 3822490 – DĐ: 0913.870099

Website: www. vanly.com.vn    Email: vanlylaw@gmail.com

-------------------------------------------------------------------

                 Cần Thơ, ngày 04 tháng 12  năm 2017.

 

ĐỀ NGHỊ XEM XÉT CÁO TRẠNG SỐ 65/CTr-VKSNCB-P2

NGÀY 29/11/2017 CỦA VKSND TỈNH CAO BẰNG

 

Kính gửi:     - BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH CAO BẰNG.

                   - CHỦ TỊCH HĐND TỈNH CAO BẰNG.

                   - TRƯỞNG BAN NỘI CHÍNH TỈNH ỦY TỈNH CAO BẰNG.

                   - CHÁNH ÁN TAND TỈNH CAO BẰNG.

                   - VIỆN TRƯỞNG VKSND TỈNH CAO BẰNG.

                   - GIÁM ĐỐC CÔNG AN TỈNH CAO BẰNG.

                   - THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN TỈNH CAO BẰNG.

                   - BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY CAO BẰNG.

 

Anh Đoàn Anh Tuấn (Phó Chánh Văn phòng UBND TP. Cao Bằng), chị Bế Thị Phương (Phó Phòng tài nguyên môi trường TP. Cao Bằng) và chị Nông Thúy An (Cán bộ Phòng tài nguyên môi trường TP. Cao Bằng) có nhờ 03 Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Lý, Đoàn luật sư TP.Cần Thơ bào chữa cho họ trong vụ án “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra từ năm 2009 đến năn 2011 liên quan đến việc  “Bồi thường, tái định cư dự án hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Đề Thám tỉnh Cao Bằng”.

- Ngày 18/08/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng có kết luận điều tra số 53/KLĐT (Bút lục số 1).

- Ngày 15/09/2017 VKSND tỉnh Cao Bằng có quyết định số 04/QĐ-KSĐT trả hồ sơ cơ quan điều tra bổ sung.

- Ngày 16/11/2017 cơ quan cảnh sát điều tra có kết luận điều tra bổ sung số 73/KLĐTBS (Bút lục số 2).

- Ngày 29/11/2017 VKSND tỉnh Cao Bằng có cáo trạng số 65/CTr-VKSNCB-P2 truy tố các cán bộ nêu trên về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự” (Bút lục số 3).

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án tại VKSND tỉnh Cao Bằng, sau khi trao đổi với các bị can.

Căn cứ Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Tôi: Luật sư Nguyễn Trường Thành thay mặt Luật sư tiến sĩ Mai Thế Bày, Luật sư Phương Ngọc Dũng là những người bào chữa cho 03 bị can nêu trên có bản kiến nghị này đề nghị xem xét lại toàn bộ cáo trạng 65/CTr-VKSNCB-P2 ngày 29/11/2017 của VKSND tỉnh Cao Bằng. Ý kiến của Luật sư như sau:

I/ VỀ NỘI DUNG VỤ VIỆC.

Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Cao Bằng nội dung vụ án được thể hiện:

Dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Đề Thám (Sau đây gọi tắt là khu công nghiệp Đề Thám) được UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt quy hoạch chi tiết tại quyết định số 1256/QĐ-UBND ngày 20/07/2007 của UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt tổng mức đầu tư 214.398.000.000đ, với diện tích bồi thường giải phóng mặt bằng khoảng 92.21ha đất các loại. Ngày 24/06/2008 UBND tỉnh Cao Bằng có quyết định số 1089/QĐ-UBND  phê duyệt phương án tổng thể bồi thường hỗ trợ, tái định cư giải phóng mặt bằng của dự án với phạm vi 95,21ha. Ngày 07/04/2009 UBND tỉnh Cao Bằng có quyết định số 609/QĐ-UBND thu hồi đất cho dự án đến ngày 20/12/2011 UBND tỉnh Cao Bằng lại ban hành quyết định số 2758/QĐ-UBND điều chỉnh tổng mức đầu tư tăng lên 316.270.000.000đ.

- Sau khi có quyết định số 609/QĐ-UBND của UBND tỉnh Cao Bằng Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư thị xã Cao Bằng nay là TP.Cao Bằng (Gọi là TP) đã tiến hành thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng từ tháng 07/2009 đến thời điểm Thanh tra tỉnh Cao Bằng có quyết định số 219 ngày 25/07/2012 được 07 đợt và thực chi trả 06 đợt. Trong đó Hội đồng thẩm định tỉnh Cao Bằng thẩm định trình UBND tỉnh Cao Bằng ra quyết định phê duyệt đợt 1+2+3, Hội đồng thẩm định TP.Cao Bằng thẩm định và UBND TP.Cao Bằng ra quyết định phê duyệt 04 đợt gồm “Khu tái định cư mở rộng đợt 4,5,6”.

- Hồ sơ thanh tra nhà nước tỉnh Cao Bằng và kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra chỉ kết luận và khởi tố điều tra và truy tố việc thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đối với đợt 05 và 06 của dự án khu công nghiệp Đề Thám.

Kết quả điều tra xác định:

“Quá trình xác định lập dự toán và phê duyệt dự toán đã không áp dụng đúng các văn bản nhà nước dẫn đến đền bù vượt quá mức quy định cho hộ dân với tổng số tiền phải thu hồi từ các hộ dân là: 1.554.172.517đ (Một tỷ năm trăm năm mươi bốn triệu một trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm mười bảy đồng)”.

Cụ thể như sau:

- Xác định điều kiện đối tượng hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm chưa đúng quy định khoản 2 điều 20 quyết định số 3336/2009 ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát số tiền 790.614.000đ.

- Áp giá đất chưa đúng vị trí, khung giá quy định tại quyết định số 3165 ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát 7.500.000đ.

- Không xác định độ dốc (Độ dốc lớn hơn 15% nhưng lập dự toán tính đất bằng) để nhân hệ số quy định tại quyết định số 3165 ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát 118.739.520đ.

- Xác định loại đất chưa đúng mục đích sử dụng thực tế, giấy tờ pháp lý liên quan đến sử dụng đất gây thất thoát 137.973.000đ.

- Nhân hệ số đất rừng không đúng quy định tại điều 6 quyết định số 3336 ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát 77.192.207đ.

- Đền bù trùng 02 thửa đất (Cùng 01 thửa đền bù cho 02 hộ) gây thất thoát 5.865.400đ.

- Thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng chưa đúng định mức cho 03 hộ trái khoản 1 điều 22 quyết định số 3336 ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát 1.500.000đ.

- Hỗ trợ chuyển đổi nghề, ổn định đời sống sai quy định gây thất thoát 398.029.050đ.

- Đền bù hộ dân chưa thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước trái quy định khoản 4 quyết định số 3336 ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng gây thất thoát số tiền 11.739.500đ.

- Dự toán số lượng cây chưa đúng gây thất thoát số tiền 5.019.840đ.

- Cấp lô đất tái định cư có giá trị 28.000.000đ không đúng quy định điểm a, khoản 1 điều 24 quyết định số 3336 ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng.

- Số tiền chi phí giải phóng mặt bằng, thẩm định giá 29.529.268đ và 1.554.172đ.

Với hành vi nêu trên, cáo trạng VKSND tỉnh Cao Bằng truy tố:

Ông: Vương Đức Lợi – Nhân viên hợp đồng Ban giải phóng mặt bằng TP.Cao Bằng tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3 Điều 165 Bộ luật hình sự.

Ông: Đoàn Anh Tuấn, bà Nông Thúy An, bà Bế Thị Phương tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự.

II/ Ý KIẾN CỦA LUẬT SƯ VỀ CÁO TRẠNG CỦA VKSND TỈNH CAO BẰNG.

1/ Về tố tụng.

Việc VKSND tỉnh Cao Bằng ban hành cáo trạng đề nghị truy tố các bị can về hai tội danh nêu trên, trong khi quá trình điều tra vụ án chưa được điều tra đầy đủ toàn diện là chưa bảo đảm tính hợp pháp, bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất: Cơ quan điều tra và VKS đã cắt khúc vụ việc để điều tra, bằng chứng là:

a/ Việc lập dự toán đền bù, tái định cư khu công nghiệp Đề Thám bắt buộc phải qua ý kiến của chính quyền địa phương, Ban địa chính xã phường nơi có dự án. Dự toán sẽ không được phê duyệt nếu không có xác nhận của chính quyền sở tại, một số hồ sơ dự toán đền bù nếu có thiếu sót gây thất thoát tiền đền bù thì đơn vị chịu trách nhiệm đầu tiên là UBND phường Đề Thám, cụ thể là cán bộ địa chính và cán bộ tham gia kiểm đếm lập dự toán. Điều này đã được kết luận thanh tra kết luận ở trang 13 mục 4 (Bút lục số 4), cơ quan điều tra và VKS loại trách nhiệm của cán bộ địa chính UBND phường Đề Thám ra khỏi vụ việc là không đúng.

b/ Chủ đầu tư là Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám, đơn vị được UBND tỉnh Cao Bằng giao thực hiện dự án và thực hiện việc giải phóng mặt bằng, chi trả tiền bồi thường, tái định cư cho các hộ dân. Sau đó ký hợp đồng kinh tế giao khoán lại cho Ban bồi thường giải phóng mặt bằng TP.Cao Bằng cũng được cơ quan cảnh sát điều tra, VKS tỉnh Cao Bằng ưu ái đưa ra khỏi vụ việc là không bảo đảm sự công bằng. Bởi lẽ theo hồ sơ phản ánh thì Ban bồi thường giải phóng mặt bằng TP.Cao Bằng, Phòng tài nguyên và môi trường TP.Cao Bằng không phải là đơn vị được UBND tỉnh Cao Bằng giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng và tiến hành chi trả bồi thường. Các đơn vị này thực hiện trên cơ sở hợp đồng kinh tế với Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám, về mặt pháp lý Công ty này chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà nước về việc “Bồi thường tái định cư, giải phóng mặt bằng” toàn bộ số tiền tạm ứng thanh toán từ kho bạc đều chuyển về tài khoản Công ty. Ban bồi thường giải phóng mặt bằng và Phòng tài nguyên môi trường không phải chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà nước mà chịu trách nhiệm với Công ty theo hợp đồng kinh tế mà hai bên đã ký. Việc xem xét trách nhiệm hình sự của một bên trong hợp đồng, còn bên kia không xem xét là thiếu lẻ công bằng.

Thứ hai: Cơ quan điều tra, VKSND tỉnh Cao Bằng chưa tiến hành điều tra các chứng cứ có ý nghĩa xác định các bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ việc xảy ra, cụ thể là:

a/ Tại kết luận thanh tra số 148/KLTTr ngày 16/05/2013 của Thanh tra tỉnh Cao Bằng thì đến ngày 22/08/2014 UBND TP.Cao Bằng đã có quyết định số 1664/QĐ-UBND điều chỉnh giám giá trị bồi thường đã được phê duyệt trong dự toán tại đợt 5, đợt 6 trước đó, như vậy về mặt pháp lý kể từ thời điểm 22/08/2014 Chủ đầu tư dự án là Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám sẽ không được quyết toán theo dự toán được duyệt trước đó mà phải quyết toán theo quyết định điều chỉnh số 1664/QĐ-UBND của UBDN TP.Cao Bằng. Cũng có nghĩa là ngân sách nhà nước không mất tiền, việc này quá trình điều tra và kiểm sát điều tra không điều tra làm rõ trước khi ban hành cáo trạng.

b/ Cơ quan điều tra, kiểm sát điều tra cũng không xác minh làm rõ quá trình xử lý sau thanh tra của UBND TP.Cao Bằng, cụ thể là việc ban hành các văn bản thu hồi số tiền thừa trả cho dân theo kết luận thanh tra. Nếu vụ án bị khởi tố hình sự thì bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Cao Bằng phải đề nghị UBND TP.Cao Bằng thu hồi các quyết định hành chính của UBND thành phố để đưa tất cả những người dân nhận thừa tiền bồi hoàn giải phóng mặt bằng vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự, giữa cơ quan tố tụng tỉnh Cao Bằng và cơ quan hành chính nhà nước đang cùng xử lý một vụ việc. UBND TP.Cao Bằng đã xử lý xong về mặt hành chính, thì cơ quan tố tụng tỉnh Cao Bằng lại khởi tố vụ án để xử lý hình sự là không đúng. Nếu xử lý hình sự các cán bộ như cáo trạng của VKS tỉnh Cao Bằng thì cũng cần khởi tố điều tra về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản” của những người nhận thừa tiền đền bù giải phóng mặt bằng đã có quyết định thu hồi nhưng không nộp lại cho Công ty, để Công ty quyết toán với nhà nước (Bút lục số 5 đến số 40).

Thứ ba: Cơ quan điều tra và VKSND tỉnh Cao Bằng chưa xác định được các thành phần tham gia tố tụng trong vụ án, cụ thể là:

a/ Cơ quan, tổ chức nào là nguyên đơn dân sự trong vụ án.

b/ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào là bị đơn dân sự trong vụ án.

c/ UBND TP.Cao Bằng (Phê duyệt dự toán và điều chỉnh dự toán lần 5+6) tham gia với tư cách gì?

d/ Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám tham gia với tư cách gì?

e/ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng TP.Cao Bằng một bên trong hợp đồng kinh tế và UBND phường Đề Thám đơn vị xác nhận hồ sơ địa chính tham gia tố tụng với tư cách gì?

Thứ tư: Cơ quan điều tra chưa tiến hành điều tra việc bồi thường tái định cư, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân việc chi trả có thiếu hay không? Bởi thực tế trong việc bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng có trường hợp trả dư nhưng cũng có trường hợp trả thiếu. Nên cần điều tra làm rõ để xác định chính xác thiệt hại nếu có.

Tất cả vấn đề nêu trên chưa được làm rõ trước khi chuyển hồ sơ truy tố cho TAND tỉnh Cao Bằng.

2/ Về nội dung.

Cáo trạng của VKSND tỉnh Cao Bằng truy tố ông Vương Đức Lợi tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và ông Đoàn Anh Tuấn, Nông Thúy An, Bế Thị Phương về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” đều chưa có căn cứ pháp lý vững chắc. Bởi các lý do sau đây:

1/ Về tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”  không đủ căn cứ để truy tố đối với ông Vương Đức Lợi, bởi các lý do:

Thứ nhất: Theo cáo trạng của VKS và kết luận điều tra để xác định Vương Đức Lợi là nhân viên hợp đồng làm công ăn lương tại Ban bồi thường giải phóng mặt bằng không phải là công chức, viên chức nhà nước, không được bổ nhiệm chức vụ gì nên không đủ yếu tố về mặt chủ thể để truy tố tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” đây là loại tội danh có chủ thể đặc biệt phải là người có “Chức vụ quyền hạn”.

Thứ hai: Vương Đức Lợi là nhân viên hợp đồng thực hiện công việc kiểm đếm, ký các biên bản kiểm đếm, trực tiếp tổng kết số liệu, đối chiếu văn bản và lập dự toán đợt 5, đợt 6 nhưng không phải là người có chức vụ quyền hạn để phê duyệt dự toán, các biên bản của Lợi lập sẽ không có giá trị nếu không được xác nhận của cán bộ địa chính phường và UBND phường Đề Thám. Nên không thể quy kết Vương Đức Lợi “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” được.

Thứ ba: VKSND tỉnh Cao Bằng có sự nhầm lẫn trong việc vận dụng các văn bản như: Quyết định số 3336 ngày 31/12/2009, quyết định số 3165 ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Cao Bằng để kết luận Vương Đức Lợi làm trái các văn bản này gây hậu quả nghiêm trọng (Trả thừa 1.554.172.517đ) cho dân là không đúng bởi các quyết định nêu trên của UBND tỉnh Cao Bằng không phải là văn bản quy phạm pháp luật dùng để quản lý mà các văn bản trên là các văn bản cá biệt áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng không có giá trị pháp lý đối với các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc. Các văn bản cá biệt này có thể điều chỉnh, thay đổi tùy thực tế của mỗi địa phương nên không thể làm căn cứ buộc tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” được.

2/ Về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Việc truy tố các bị can về tội danh này cũng không đầy đủ căn cứ pháp lý vững chắc, bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất: Việc truy tố tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” của VKSND tỉnh Cao Bằng dựa trên cơ sở cho rằng Đoàn Anh Tuấn, Bế Thị Phương, Nông Thúy An đã không kiểm tra để Vương Đức Lợi cố ý làm trái nên gây ra hậu quả là thất thoát số tiền 1.554.172.517đ như vậy hành vi phạm tội của các bị can xuất phát từ hành vi phạm tội của Vương Đức Lợi. Trong khi như phần trên Luật sư đã chứng minh Vương Đức Lợi không phạm tội “Cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” đương nhiên Đoàn Anh Tuấn, Nông Thúy An, Bế Thị Phương không phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thứ hai: Ban bồi thường giải phóng mặt bằng, Phòng tài nguyên môi trường TP.Cao Bằng không phải là đơn vị được UBND tỉnh Cao Bằng giao nhiệm vụ “Bồi thường, tái định cư và giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Đề Thám” vì đây là công trình do UBND tỉnh Cao Bằng làm chủ đầu tư. Điều này cũng đã được cáo trạng VKS tỉnh Cao Bằng ghi nhận là “Đợt 1,2 duyệt dự toán là do UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt, không phải do UBND TP.Cao Bằng phê duyệt. Dự án theo kết luận thanh tra và kết luận điều tra và các tài liệu thu thập được đều khẳng định UBND tỉnh Cao Bằng giao việc lập dự toán, chi trả tiền bồi thường tái định cư giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Đề Thám cho chủ đầu tư là Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám”. Sau đó Công ty này mới ký hợp đồng kinh tế giao khoán lại cho Ban bồi thường giải phóng mặt bằng TP.Cao Bằng thực hiện thay (Hợp đồng kinh tế số 03 ngày 30/06/2009, hợp đồng kinh tế số 25 và số 25A ngày 22/05/2009), (Bút lục số 41 đến số 43).

Như vậy việc lập dự toán chi trả tiền bồi thường tái định cư, giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Đề Thám không phải là nhiệm vụ mà UBND tỉnh Cao Bằng, UBND TP.Cao Bằng giao mà là thực hiện hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư là Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám. Nên không có căn cứ pháp lý về chủ thể để khởi tố và truy tố các bị cáo nêu trên về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, quan hệ giữa Ban giải phóng mặt bằng với Công ty là quan hệ dân sự được thiết lập dựa trên hợp đồng. Nếu Ban giải phóng mặt bằng, Phòng tài nguyên môi trường có sai sót trong quá trình thực hiện hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám thì họ phải bồi thường theo hợp đồng dân sự mà hai bên đã ký, cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Cao Bằng đang hình sự hóa một quan hệ dân sự.

Thứ ba: Việc VKSND tỉnh Cao Bằng cho rằng công trình hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám tạm ứng và quyết toán theo năm tài chính đối với số tiền bồi thường cho dân, năm 2011 và năm 2012 Sở tài chính tỉnh Cao Bằng đã quyết toán cho dự án hệ thống hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám  số tiền 48.816.186.917đ  kết luận này của VKSND tỉnh Cao Bằng trái luật ngân sách nhà nước. Vì dự án khu công nghiệp Đề Thám TP.Cao Bằng được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nên Sở tài chính không có thẩm quyền phê duyệt quyết toán chỉ có thẩm quyền thẩm tra trình UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt và công trình chỉ được quyết toán sau khi hoàn công đưa vào sử dụng ở thời điểm năm 2011 và năm 2012 việc giải phóng mặt bằng chưa hoàn thành theo kết luận thanh tra thì không thể có việc quyết toán, số tiền nêu trên chỉ là số tiền tạm ứng thanh toán của chủ đầu tư. Để làm rõ vấn đề này, cần thiết phải trưng cầu giám định tài chính đối với toàn bộ dự án “Khu công nghiệp Đề Thám” đối với Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám nhằm xác định chính xác dự án đã được quyết toán hay chưa, quyết toán thời gian nào? Tổng giá trị quyết toán đối với hạng mục “Giải phóng mặt bằng, tái định cư, hỗ trợ, bồi thường giá trị tài sản, hoa màu, đất đai là bao nhiêu” từ đó mới có căn cứ để kết luận có hay không có thất thoát. Cơ quan điều tra và VKS tỉnh Cao Bằng cắt một khúc (Đợt 5, đợt 6) để khởi tố truy tố là không bảo đảm tính hợp pháp.

Thứ tư: Về số liệu bị coi là thiệt hại để truy tố các bị cáo, hồ sơ điều tra thể hiện:

- Số liệu thanh tra: Xác định thất thoát 2.922.486.270đ.

- Số liệu cơ quan điều tra: Xác định thất thoát 1.682.467.471đ.

- Số liệu cáo trạng VKS: 1.554.172.517đ.

Chính bản thân của cơ quan thanh tra, điều tra và kiểm sát điều tra vẫn chưa xác định được đâu là con số chính xác thiệt hại nếu có, thì lấy căn cứ nào để truy tố các bị cáo. Trong khi dự án khu công nghiệp Đề Thám đến nay chưa được quyết toán với chủ đầu tư là Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám.

Thứ năm: Việc cáo trạng của VKS buộc các bị can phải chịu trách nhiệm về phần không xác định độ dốc là không đúng với tài liệu chứng cứ của vụ án đã được thu thập, bởi lẽ: Theo quy định thì độ dốc phải được xác định trên bản đồ khi đo đạc để phục vụ công tác bồi thường, phần này Chủ đầu tư Hợp đồng với Văn phòng đăng ý đất đai sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Cao Bằng thực hiện. Do vậy trách nhiệm không thuộc đơn vị đo đạc lập bản đồ, không thuộc trách nhiệm của thành phố (Đề nghị bỏ 118.739.520đ ra khỏi số tiền do Ban bồi thường và Hội đồng thẩm định của thành phố tính toán sai – Vì trong Kết luận của Cơ quan điều tra Công an tỉnh cũng đã làm rõ trách nhiệm không thuộc thành phố).

Thứ sáu: Theo thông báo số 426/TB.TU ngày 09/05/2014 đã kết luận đối với vụ việc liên quan dự án “Hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Đề Thám” đã chỉ đạo như sau “Giao ban cán sự UBND tỉnh chỉ đạo thống nhất số tiền sai phạm phải thu hồi theo theo kết luận thanh tra ngày 16/05/2013 của Thanh tra tỉnh và báo cáo số 248/BC-UBKT ngày 06/05/2014 của Ủy Ban kiểm tra Tỉnh ủy thu hồi số tiền thanh toán đền bù sai hoàn thành trước ngày 30/10/2014. Nếu không thu hồi được hoặc không thu hồi không đủ thì quy trách nhiệm cá nhân và buộc cán bộ công chức có liên quan bồi thường theo quy định”, (Bút lục số 44).

- Nếu không khắc phục hậu quả thì chuyển sang Công an xem xét theo quy định pháp luật.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của thường trực Tỉnh Ủy trong khi chờ thu hồi số tiền từ người dân nhận thừa, UBND TP.Cao Bằng đã có quyết định điều chỉnh dự toán và ban hành các quyết định thu hồi tiền các cá nhân đang chiếm giữ đồng thời động viên các cán bộ công chức có liên quan nộp tiền.

Theo kết luận điều tra số 73 ngày 16/11/2017 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng thì đến trước ngày khởi tố vụ án đối với Đoàn Anh Tuấn, Nông Thúy An, Bế Thị Phương thì số tiền thu hồi và nộp vào tài khoản tạm giữ là 1.682.467.471đ.

Hiện nay theo cáo trạng VKS thì số tiền cần thu hồi là 1.524.218.553đ như vậy đã thu hồi vượt quá số tiền chi nhầm, mặt khác số tiền đã thu của Chủ đầu tư hai khoản tiền hộ của ông Vi Văn Lập (105.084.000đ) và hộ ông Ma Văn Diễn (342.284.000đ) cũng chưa được cơ quan điều tra và VKS đưa vào vụ án để cân đối cấn trừ theo quy định pháp luật. Do vậy số tiền thực thu bao gồm:

1.682.467.471đ + 342.284.000đ + 105.084.000đ = 2.129.835.471đ

Như vậy số tiền thu hồi đã vượt quá số tiền mà VKS đã kết luận, cho nên theo chỉ đạo trong văn bản nêu trên của thường trực Tỉnh Ủy Cao Bằng vụ việc không cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự.

III/ KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.

1/ Kết luận:

Từ các căn cứ và phân tích nêu trên cho thấy có nhiều lý do khách quan mà trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế với Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đề Thám về việc lập dự toán và chi trả đền bù, tái định cư giải phóng mặt bằng khu công nghiệp Đề Thám TP.Cao Bằng các cán bộ thực hiện hợp đồng từ phường đến Ban giải phóng mặt bằng, Phòng tài nguyên môi trường có sự nhầm lần từ đó chi trả có nơi thừa, có nơi thiếu cho dân. Sau khi phát hiện đã kịp thời khắc phục điều chỉnh dự toán và tạm thời nộp số tiền vào tài khoản tạm giữ chờ xử lý, đến nay đã nộp thừa theo kết luận điều tra. Do vậy không cần thiết phải xử lý hình sự đối với họ, trong khi quá trình điều tra vụ án còn chưa đầy đủ, khách quan và toàn diện.

2/ Ý kiến đề xuất:

1/ Đối với Tỉnh Ủy, HĐND, Ban Nội chính tra xem xét để có ý kiến với cơ quan tố tụng tỉnh Cao Bằng cân nhắc để không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Đoàn Anh Tuấn, bà Nông Thúy An, Bế Thị Phương vì với khuyết điểm của họ đã bị xử lý kỷ luật về mặt Đảng và kỷ luật về mặt chính quyền.

2/ Đề nghị Chánh án TAND tỉnh Cao Bằng xem xét để quyết định trả hồ sơ cho VKSND tỉnh Cao Bằng điều tra bổ sung đối với vụ án.

Trên đây là nội dung và đề nghị của Luật sư, trân trọng kính mong được xem xét.

Nơi nhận:

- Như trên.

- Các thân chủ.

- Lưu HSBC.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VẠN LÝ

Trưởng Văn Phòng

(Đã ký)

LS.Nguyễn Trường Thành